Chủ Nhật, 16 tháng 8, 2015

NÓI TRẠNG VĨNH HOÀNG

     Chuyện trạng Vĩnh Hoàng - Nét độc đáo dân gian của một vùng quê thuộc huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị. Huyện Vĩnh Linh trong kháng chiến chống Pháp, từ năm 1954 trở thành vùng khu phi quân sự theo hiệp định Giơ-ne-vơ, có dòng sông Bến Hải và cầu Hiền Lương đã mãi mãi đi vào sử sách. Trong kháng chiến chống Mỹ, Vĩnh Linh là mảnh đất lũy thép anh hùng. Vĩnh Linh ngày nay là vùng đất phong phú có cả rừng núi, trung du, đồng bằng và vùng biển với những bãi biển nổi tiếng như Cửa Tùng, Vĩnh Thạch...Vùng đồng bằng Vĩnh Linh lại có cả một vùng đất đỏ bazan thuận lợi cho việc canh tác các loại cây công nghiệp như hồ tiêu, cao su, cây rau màu các loại. Xã Vĩnh Hoàng đã có trên 300 năm và 3 làng Huỳnh Công là nơi xuất xứ của chuyện trạng nên gọi chung là chuyện trạng Vĩnh Hoàng.
     Có lẽ thiên nhiên đã tạo nên cuộc sống khoáng đạt cho con người nơi đây nên đã từ lâu ở Vĩnh Linh dân gian lưu truyền chuyện trạng Vĩnh Hoàng. Chuyện trạng là nói trạng lên, nhân cách hóa lên, phóng đại lên từ một sự việc, sự vật có thật. Nếu chép ra thành sách để đọc thì không hay nhưng người dân nơi đây với ngữ điệu riêng, âm điệu đặc biệt kết hợp với cách phát âm riêng nên trở thành chuyện trạng và những mẫu chuyện ngắn này đã trở thành một đặc sản ngôn ngữ dân gian lưu truyền cho đến ngày nay. Tương tự như các loại hình văn nghệ dân gian khác, chuyện trạng mang tính hài hước na ná gần như một chuyện tiếu lâm nhưng không có nút thắt cao trào gây cười như chuyện tiếu lâm mà chỉ để nói trạng với nhau hàng ngày. Khi tiếp xúc với người dân vùng này hầu như ai cũng rất thích cách nói chuyện khoáng đạt của họ, chưa hiểu thì nghi ngờ họ nói khoác (bốc phét) nhưng hiểu ra mới thấy chất trào lộng ở từng câu chuyện. Tôi xin sưu tầm một số chuyện trạng Vĩnh Hoàng, phần lớn là của tác giả Hữu Chư chép ra đây để đọc giả hiểu thêm về nét văn hóa dân gian độc đáo của một vùng quê thuộc huyện Vĩnh Linh. tỉnh Quảng Trị.

         I- BẮT NHẦM CỌP THAY BÒ KÉO CÀY:
     Một lão nông làng Huỳnh Công say sưa kể chuyện:
     Sớm ni trời chưa sáng vội vội vàng vàng mắt dắm mắt mở ra chuồng đắc bò đi cày, ra ngoài roọng mới cày được mấy đàng đầu tiên thấy lạ: Răng hôm ni cặp bò đi mau rữ, mới cải vô là hắn chạy băng băng, kéo cày đi mau mà lại đi lung tung xiêu xiêu vẹo vẹo chớ không thẳng hàng thẳng lối chi cả như mọi ngày mần tui cứ vụt roi đập vô lưng hắn liên tục với hét khô cả cổ họng quát nạt cặp bò. Bò cày mau nên mới sớm mơi ra là cày xong mẫu roọng, tui mới mở cặp bò cho hắn nghỉ ngơi ăn cỏ uống nác thì uơ làng ơi, một bên đực bò vàng to dích làng Huỳnh Công của tui là một ông Coọc to đùng vằn vằn vện vện đứng thở vì kéo cày quá doọc. Mới chộ rứa là tui sợ hết hồn hết vía nhưng cũng sè sẹ tháo ách cày rồi ra roi quất cho ông Coọc mấy roi cày quắn đít. Coọc được tháo ách cày lại bị roi đau quá nên cong đuôi co giò chạy biến vô rú không dám ngoảnh lại.
    Thì ra túi hôm qua Coọc về chui vô chuồng bò tính cọng đực bò to dích làng Huỳnh Công của tui vô rừng ăn thịt nhưng chưa cọng được bò thì đã bị tui cải vô ách cày bắt cày ruộng.
     Chuyện tui kể thiệt một trăm phần trăm, ai tin thì tin không tin thì thôi...Khơ..khơ...khơ...     

Thứ Tư, 15 tháng 7, 2015

ĐỊA ĐẠO VỊNH MỐC

Sơ đồ làng địa đạo Vinh Mốc
     Địa đạo Vịnh Mốc thuộc xã Vĩnh Thạch, huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị. Đây là một làng nhỏ nằm sát biển Cửa Tùng. Sau hiệp định Giơ-ne-vơ 1954 chia cắt hai miền Nam- Bắc, huyện Vĩnh Linh trở thành một đơn vị hành chính tương đương cấp tỉnh. Những năm 1960, Mỹ- ngụy tăng cường chiến tranh phá hoại miền Bắc thì Vĩnh Linh trở thành tuyến lửa và mệnh danh là Lũy thép thành đồng. Trong những năm chiến tranh, đặc khu Vĩnh Linh, nay là huyện Vĩnh Linh thuộc tỉnh Quảng Trị đã phải hứng chịu hàng triệu tấn bom đạn từ máy bay, tàu chiến và pháo từ bờ nam bắn sang, số liệu ước tính mỗi người dân Vĩnh Linh phải chịu đựng bình quân 7 tấn bom Mỹ. 
Cổng chào đầu làng địa đạo
     Trong điều kiện chiến tranh khốc liệt như vậy nhưng con người Vĩnh Linh vẫn phải sống và ngoan cường chiến đấu giữ gìn mảnh đất quê hương. Hàng ngàn học sinh, trẻ em được tổ chức sơ tán ra các tỉnh miền bắc và những người ở lại vừa tìm cách tránh bom đạn vừa chiến đấu chống lại chiến tranh phá hoại của Mỹ và địa đạo Vịnh Mốc đã ra đời trong điều kiện như thế.
 
Cửa hầm địa đạo(phục chế)
     Công trình địa đạo Vịnh Mốc được đào từ đầu năm 1965 và hoàn thành vào đầu năm 1967 sau 2 năm vừa bám trụ chiến đấu vừa đào địa đạo. Ông Lê Xuân Vy nguyên là Trường đồn Công an vũ trang giới tuyến đã chỉ huy đơn vị và nhân dân trực tiếp đào địa đạo bằng những phương tiện thô sơ như cuốc, cúp, xẻng, xe cút kit cải tiến, quang gánh...và định vị thủ công bằng chiếc la bàn đơn giản để xác định hướng. Tổng cộng đã có 18 ngàn ngày công huy động để hoàn thành địa đạo với tổng chiều dài trục chính của 3 đường hầm gần 2 cây số. (Ông Lê Xuân Vy nay về hưu ở phường 5, thành phố Đông Hà, Quảng Trị với hàm Trung tá nhưng tuổi cao, già yếu và bệnh tật).   
Trong lòng địa đạo
     Cấu trúc địa đạo gồm có 3 đường(tầng) ở 3 độ sâu khác nhau, tầng trên cùng nằm sâu cách mặt đất chừng 12-14 mét dùng làm nơi ở bằng cách khoét sâu vào hai bên trục hầm chính để làm nơi ở, mỗi hầm cho một gia đình. Tầng 2 cách tầng 1 khoảng 4- 5 mét là nơi đặt trụ sở chỉ huy và tầng 3 đặt kho tàng hậu cần cung cấp cho sinh hoạt của nhân dân và hàng hóa chi viện cho đảo Cồn Cỏ cách đất liền chừng 50km. Trong lòng địa đạo có cả hội trường, bệnh xá, nhà trẻ, bếp, giếng nước...Đại đạo có tất cả 13 cửa thông ra ngoài trong đó có 7 cửa thông ra biển và 6 cửa thông lên đồi. Do cấu trúc địa chất khu vực này là vùng đất đỏ ba-zan nên hiện tượng ngấm nước sụt lún không xẩy ra, hơn nữa tầng dưới cùng sâu khoảng 23 mét nhưng vẫn còn cách mực nước biển 3 mét nên mùa mưa bão không ảnh hưởng đến hoạt động của những người sống trong lòng địa đạo.    

Thứ Hai, 29 tháng 6, 2015

DI TÍCH HÀNG RÀO ĐIỆN TỬ MC- NAMARA

SƠ LƯỢC VỀ HÀNG RÀO ĐIỆN TỬ MC- NAMARA 
    Đất nước chia cắt thành hai miền Nam- Bắc từ năm 1954, sau hơn 10 năm hô hào lấp sông Bến Hải, Bắc tiến không thực hiện được với sự sụp đổ của chính phủ Ngụy quyền Ngô Đình Diệm, đế quốc Mỹ ngày càng can thiệp sâu vào cuộc chiến ở Việt Nam, dồn chi phí quân sự, quân đội, vũ khí và các phương tiện chiến tranh tối tân hiện đại nhằm biến miền Nam Việt Nam thành căn cứ quân sự của Mỹ với ý đồ xâm lược thôn tính lâu dài.
     
     Tháng 6/1966, Mỹ quyết định xây dựng hàng rào điện tử chạy dài dọc theo giới tuyến nhằm ngăn chặn sự tấn công của quân ta vào chiến trường Trị Thiên và miền Nam. Công trình với sự nghiên cứu của 47 nhà khoa học tiếng tăm của Mỹ và được đặt theo tên của Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ thời bấy giờ là Robert Mc Namara.
Các loại cây thu phát tín hiệu
     Hàng rào điện tử có quy mô chiều dài khoảng 100 km dọc khu phi quân sự từ biển lên đến Mường- Phìn vùng biên giới Việt- Lào, với chiều ngang rộng khoảng 10- 20km. Mỹ thiết kế hàng rào làm vật cản gồm các loại dây kẽm gai dày 12 mét, cao 3 mét, vài chục mét có lắp một đèn chiếu sáng, phía trước là bãi mìn dày đặc chiều rộng từ 500- 700 mét. Suốt dọc chiều dài của hàng rào địch bố trí 17 căn cứ mà Dốc Miếu được coi là căn cứ quan trọng nhất.
Căn cứ Ra-da thu nhận tín hiệu

NHỊP CẦU XUYÊN Á


LAO BẢO- CỬA KHẨU QUỐC TẾ VIỆT- LÀO

     Từ Quốc lộ 1A, theo đường Quốc lộ số 9 dài 80 km bạn sẽ đến cửa khẩu Quốc tế Lao Bảo, đây là một trong 02 cửa khẩu Quốc tế giữa CHDCND Lào và CHXHCN Việt Nam nằm trên địa phận ranh giới tỉnh Quảng Trị của Việt Nam và tỉnh Xavanakhet Lào.
     Có thể nói tư liệu về việc hình thành con đường 9 từ Việt Nam sang Lào khá hiếm, chỉ biết rằng thời trước khu vực này thuộc địa bàn rừng núi huyện Hướng Hóa. Quốc lộ 9 bây giờ có tổng chiều dài phía Việt Nam chỉ có 80 km nhưng đoạn đường thuộc đồng bằng từ Đông Hà lên Cam Lộ chỉ có gần 20km, còn lại là đường dốc quanh co đồi núi trập trùng.

     Những năm đầu của thế kỷ XX, từ một con đường đất dành cho người bộ hành ở xứ thâm sơn cùng cốc rừng thiêng nước độc, thực dân Pháp đã cho mở đường để xe cơ giới đi lại được. Mục đích chính là phục vụ cho việc vận tải kinh doanh tài nguyên khoáng sản từ vùng đất giàu có của xứ Xavannakhet Lào. Để làm được việc đó, thực dân Pháp đã đầu tư tiền của, chiêu mộ phu phen của vùng Quảng Trị để đào đá đắp đường, xây cầu cống...với muôn vàn gian lao khổ cực. Sau này khi con đường đã thông thương, thực dân Pháp đã cho xây Nhà đày Lao Bảo để giam giữ biệt xứ các nhà hoạt động Cách mạng của Việt Nam cũng phần nào nói lên sự gian nan đi lại vất vã trên tuyến đường rừng núi này.     

     Về khía cạnh khác, có thể nói rằng khi thực dân Pháp đô hộ xứ Đông Dương thì ngoài những chính sách cai trị, việc mở đường sá thông thương giữa 3 nước Việt Nam- Lào- Campuchia nằm trong chính sách khống chế về quân sự, chính trị, khai thác về kinh tế...đối với các nước thuộc địa. Về kinh tế, thời đó Pháp đã xây dựng tuyến đường sắt Bắc- Nam và nhiều nhà ga lớn nhỏ, trong đó một ga tàu được xây dựng ở Đông Hà- một làng nhỏ nghèo khó để nối đường 9 với đường sắt. Viên Công sứ Pháp vùng Xavannakhet Lào có tên là Manpuech đã dám từ bỏ chức vụ công sứ để theo nghiệp kinh doanh vì phát hiện thấy những mối lợi lớn. Ông đã tổ chức vận tải hàng hóa từ Xavannakhet sang Quảng Trị, kinh doanh lúa gạo từ Thái Lan sang, chủ nhà máy xay xát, khai thác gỗ ở Lào, chủ nhà máy rượu XIKA có tiếng ở Đồng Hới... 

Thứ Tư, 24 tháng 6, 2015

ĐÔI BỜ GIỚI TUYẾN

GIỚI TUYẾN TẠM THỜI
SÔNG BẾN HẢI
     Khách bộ hành ra Bắc vào Nam theo đường Quốc lộ 1A xin dừng chân ghé lại thăm di tích đôi bờ Hiền Lương, đó là cụm di tích cầu Hiền Lương- sông Bến Hải một thời là giới tuyến tạm thời chia cắt hai miền Nam Bắc. Sông Bến Hải, cầu Hiền Lương mãi mãi đi vào lịch sử hào hùng của dân tộc Việt Nam, là biểu tượng cho khát vọng hòa bình thống nhất của đồng bào hai miền Nam- Bắc.
Sông Bến Hải - Cầu Hiền Lương nhìn từ bờ bắc


     Sông Bến Hải bắt nguồn từ vùng rừng núi động Chan của dãy Trường Sơn hùng vĩ phía tây huyện Vĩnh Linh, hình thành từ những con khe, con suối ngoằn ngoèo chảy về xuôi, đoạn thượng nguồn có tên là Rào Thanh, chảy về đồng bằng theo hướng Tây- Đông đổ ra biển cửa Tùng. Về vị trí địa lý sông Bến Hải nằm ở vĩ tuyến 17 và là ranh giới của huyện Vĩnh Linh và huyện Gio Linh tỉnh Quảng Trị.  


    Theo Đại Nam nhất thống chí của Quốc sử quán triều Nguyễn, thời xa xưa sông Bến Hải có tên là Minh Lương, vì kị húy tên của Vua Minh Mạng nên đổi lại thành Bến Hói, (tiếng địa phương miền Trung gọi "rào" ở thượng nguồn và "hói" ở đồng bằng) để chỉ những dòng sông nhỏ và không biết thời nào dòng sông này lại được gọi chệch đi là sông Bến Hải cho đến ngày nay. Cũng như vậy, địa danh tổng Minh Linh (tên hành chính vùng Vĩnh Linh và Gio Linh ngày xưa) cũng được đổi thành huyện Vĩnh Linh và huyện Gio Linh bây giờ.

Sông Bến Hải- Cầu Hiền Lương nhìn từ bờ Nam


IconIconIconIconFollow Me on Pinterest